kinhtehoc.com

Hội Ngộ của Lý Trí và Lợi Ích

Những Ngụy Biện của Giả Định

Võ Hồng Long dịch

Lảng Tránh Sự Thật

5. Ngôn Ngữ Cường Điệu hay Thành Kiến[20]

Trong kiểu sai lầm này, lỗi xảy ra khi việc sử dụng ngôn ngữ mang tính thành kiến để khẳng định lại cái chúng ta muốn chứng minh nhưng vẫn chưa chứng minh. Ngôn ngữ cường điệu là một công cụ được thường xuyên sử dụng trong thơ văn, nhưng nó lại không thích hợp với lý luận hay lo-gic. Chúng ta đã biết rằng lặp lại vấn đề, hoặc lảng tránh vấn đề là việc sử dụng những luận điểm đang còn tranh cãi để chứng minh cho một vấn đề khác. Chúng ta sẽ thấy khả năng của ngôn ngữ, trong đó một từ hoặc một cụm từ tạo cho ta cảm giác rằng một vấn đề nào đó đã được giải quyết hoặc chứng minh nhưng thực tế thì không phải như vậy. Bởi vì nhiều từ chứa đựng khả năng mô tả và đánh giá, nên việc lảng tránh vấn đề theo kiểu dùng ngôn ngữ cường điệu xảy ra rất nhiều.

Hãy xem xét ví dụ sau:

a. Con người này đã bị kết vào tội xấu xa nhất đối với loài người.

Một người có thể nói "người này đã bị buộc tội giết người" để đảm bảo công bằng cho sự thật còn hơn là gán vào những ý kiến gây tổn hại khi đề cập đến cùng một vấn đề.

Khái niệm ăn cắp, không chỉ thuần tuý là diễn tả một hành vi mà nó còn mang ý nghĩa phán quyết đối với hành vi đó, rằng hành vi đó là không đúng. Khi nói người đàn ông này đã ăn cắp thức ăn để cứu đứa con trai khỏi bị chết đói, việc dùng từ "ăn cắp" ở đây sẽ là lảng tránh vấn đề, bởi vì trong tình huống này hành vi của người đàn ông có thể được xem xét một cách phù hợp hơn.

Việc lảng tránh vấn đề ở đây là điều không đúng, bởi vì nó đánh thức những cảm xúc, định kiến thông qua việc sử dụng những ngôn từ mang tính áp đặt. Bằng cách nói quá vấn đề, nhạo báng, nịnh bợ, lạm dụng... Người nói, người viết đã tạo cho người đọc, người nghe tin rằng những từ ngữ đó đã được sử dụng một cách chính xác để diễn tả người, hoặc sự việc nhưng có thể là không phải như vậy.

Sau đây là một số ví dụ:

b. Khi một người phản ánh chương trình bảo hiểm thất nghiệp đã khuyến khích sự lười biếng của những kẻ ăn bám trong các khu nhà ổ chuột đã dẫn đến một chế độ phúc lợi giả dối như thế nào thì đã đến lúc chúng ta phải nhận thức rằng những sự trục lợi được hợp pháp hoá đó cần được xoá bỏ.
c. Những lời đề xuất gây căm phẫn của các thành viên hội đồng được cho là sẽ phá vỡ những mong muốn chính đáng của những công dân lao động vất vả.
d. Không một người Mỹ biết suy nghĩ nào có thể ủng hộ biện pháp này, một âm mưu xảo quyệt đã được ngấm ngầm đặt ra trong một căn phòng đầy khói thuốc của những kẻ làm ra luật.

Việc sử dụng sự lảng tránh vấn đề theo kiểu ngôn ngữ cường điệu trong các luận điểm trên đây là không thể chấp nhận được bởi vì nó đã thể hiện thái độ đồng ý hoặc không đồng ý về một vấn đề mà không đưa ra được các bằng chứng để chứng minh rằng những thái độ như thế là công bằng. Bằng cách gọi ai đó "kẻ lừa bịp để nhận trợ cấp xã hội" hoặc "những công nhân lao động vất vả" không thực sự đề cập một cách đúng mức những con người đó; hoặc gọi những biện pháp nào đó là "âm mưu xảo quyệt" hoặc "gây căm phẫn" không thể làm cho vấn đề trở nên có tính chất như vậy.

Chúng ta có thể thấy, một người không đề cập thẳng vào vấn đề có thể có ý đồ bài xích, chê bai một người khác hoặc cũng có thể với ý ca tụng, tán dương. Khi chúng ta nói đến một sự kiện lịch sử nhất định trong "thời kỳ cải cách", chúng ta có thể chịu ảnh hưởng của các nhà sử học cho rằng đó là những sự kiện còn phải bàn cãi về tính tích cực hoặc tiêu cực, do khái niệm "cải cách" không chỉ có nghĩa là thay đổi mà còn mang nghĩa thay đối theo hướng tốt. Tương tự, "người Mỹ biết suy nghĩ" là một kiểu nói để tán dương "người Mỹ".

Một ví dụ nổi tiếng về sự bài xích là những lời nhận xét của cựu Phó Tổng Thống Spiro Agnew về những người biệt giáo, trong một bài phát biểu tại New Orleans, Agnew đã nói:

e. Linh hồn của những kẻ bạo dâm chiến thắng, được ủng hộ bởi một số kẻ bất lực, tinh vi và trơ tráo, những kẻ tự cho rằng mình là con người khôn ngoan.

Nhà vẽ tranh biếm hoạ Al Capp đã có những lời châm chọc ác ý khiến một nhóm sinh viên xuống đường biểu tình khi ông đang giảng bài ở Harford: "Này! Đừng đi. Tôi đang cần một hành vi súc vật."

Nhà ngôn ngữ học S. I. Hayakawa đã đưa ra một ví dụ hóm hỉnh về sự nhầm lẫn giữa sự thật và những suy nghĩ được ẩn chứa trong sai lầm do không tập trung vào vấn đề bằng cách dùng ngôn ngữ thành kiến. Ông đã phác hoạ một bức tranh về một cuộc đối chất trong phiên toà:

f. Nhân chứng: Kẻ hai mặt bẩn thỉu đó, Jacobs đã phản bội tôi.

Luật sư biện hộ: thưa quý toà, tôi phản đối.

Quan toà: phản đối được chấp nhận. Nhân chứng hãy kể chính xác chuyện gì đã xảy ra.

Nhân chứng: hắn ta đã chơi trò hai mặt với tôi, kẻ bẩn thỉu, đồ phản bội dối trá.

Luật sư biện hộ: thưa quý toà, tôi phản đối.

Quan toà: phản đối được chấp nhận. Nhân chứng hãy nói thẳng vào sự thật.

Nhân chứng: nhưng thưa quý toà, tôi đang nói với ngài về sự thật. Hắn ta đã chơi trò hai mặt với tôi.

"Sự việc có thể tiếp diễn mà không thể kết thúc", Hayakawa chỉ ra "trừ khi người chất vấn bằng sự khéo léo của mình có thể tìm thấy được sự thật ẩn dấu đằng sau lời phán quyết đó. Đối với nhân chứng thì sự thật chính là anh ta bị chơi trò hai mặt. Việc xét hỏi liên tục phải kiên trì là điều cần thiết để tìm ra sự thật làm cơ sở cho phán quyết của toà" (Ngôn Ngữ Trong Suy Nghĩ và Hành Động, xuất bản lần thứ 4, New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1978, trang 37-38).

Việc lảng tránh vấn đề bằng cách dùng ngôn ngữ cường điệu là việc không đề cập vào vấn đề một cách đúng mức mà dẫn dắt người đọc, người nghe đi theo những quan điểm thiên kiến đối với vấn đề. Một lập luận thuyết phục sẽ làm cho người nghe, người đọc tin rằng sự đề cập như thế là hợp lý, tuy nhiên việc sử dụng ngôn ngữ mang tính thành kiến lại không thể được chấp nhận trong tranh luận.

· Chúng ta có thể không tập trung vào vấn đề bằng ngôn từ cường điệu.

· Ngôn ngữ cường điệu là một cách nói, mô tả một người, vật, ý kiến theo hướng cường điệu hoá vấn đề, thường mang ý nghĩa phê phán.

· Việc không tập trung vào vấn đề không chỉ có ý định chê bai mà còn có ý định tán dương, ca tụng.

· Cho dù là có ý định bài xích hay tán dương thì việc sử dụng ngôn ngữ cường điệu ở đây là không thể chấp nhận được. Thay vì mô tả vấn đề một cách chính xác thì người viết lại muốn người đọc chấp nhận những ngôn từ mà họ sử dụng.


Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.

Morris S. Engel. Với Lý Luận Giỏi -- Giới Thiệu Những Ngụy Biện Thông Thường. x/b 5th. New York: St. Martin's Press, 1994.

Phần I

Chương 1: Bản Chất và Phạm Vi của Lo-gic

1. Lý Luận vừa là Một Môn Khoa Học và Môn Nghệ Thuật

2. Lo-gic là Nghiên Cứu về Tranh Luận

3. Tranh Luận và Không-Tranh-Luận

4. Loại Bỏ Sự Dông Dài

5. Những Bộ Phận Khuyết Thiếu

6. Làm Nổi Bật những Thành Phần Khả Nghi

7. Đánh Giá các Tranh Luận: Đúng, Giá Trị và Hợp Lý

8. Những Tranh Luận Suy Diễn và Quy Nạp

9. Lý Luận và Giáo Dục

10. Tóm Tắt

Chương 2: Phương Tiện Truyền Đạt của Ngôn Ngữ

1. Ngôn Ngữ và Tư Duy

2. Dấu Hiệu và Biểu Tượng

3. Từ ngữ và Vật Chất

4. Sự Hữu Dụng của Ngôn Ngữ

5. Sự Tối Nghĩa và Mơ Hồ

6. Những Tranh Luận về Từ Ngữ

7. Định Nghĩa

8. Nghệ Thuật Nói Chuyện Trực Tiếp

9. Tóm Tắt

Phần II

Chương 3: Những Ngụy Biện do Sự Tối Nghĩa

0. Ngụy Biện" hay "Sai lầm"

1. Lối Nói Lập Lờ

2. Câu Nói Nước Đôi

3. Dấu Trọng Âm

4. Phép Tu Từ

5. Sự Phân Hóa và Kết Cấu

6. Tóm Tắt

Chương 4: Những Ngụy Biện của Giả Định

Bỏ Qua Những Yếu Tố Cơ Bản

1. Khái Quát Hoá

2. Gôm Đũa Cả Nắm

3. Lý Luận Rẽ Đôi

Lảng Tránh Sự Thật

4. Lập Lại Vấn Đề

5. Ngôn Ngữ Cường Điệu hay Thành Kiến

6. Phức Tạp Hóa Vấn Đề

7. Biện Hộ Đặc Biệt

Bóp Méo Sự Thật

8. Tương Đồng Giả Tạo

9. Sai Nguyên Nhân

10. Lý Luận Rập Khuôn

11. Luận Điểm Không Phù Hợp

12. Tóm Tắt

Chương 5: Ngụy Biện Tính Xác Đáng.

1. Công Kích Cá Nhân

Căn nguyên

Lăng mạ

Suy diễn gián tiếp

Xem ai nói đó

Đầu độc nguồn nước

2. Kêu Gọi Đám Đông

3. Kêu Gọi Lòng Thương

4. Kêu Gọi Quyền Lực

Quyền lực của cái duy nhất

Quyền lực của số đông

Quyền lực của số ít được lựa chọn

Quyền lực của truyền thống

5. Đánh Vào Sự Không Biết

6. Kêu Gọi Sự Sợ Hãi

7. Tóm Tắt

Phần III

Chương 6: Viết Rõ Ràng và Chặt Chẽ

1. Khái Quát Về Cấu Trúc Một Bài Luận

2. Xây Dựng Một Bài Luận

3. Chú Ý Cuối Cùng: Ngữ Pháp và Cách Sử Dụng

Chương 7: Những Bài Đọc Gợi Ý

[20] Fallacy of Question-Begging Epithets