kinhtehoc.com

Hội Ngộ của Lý Trí và Lợi Ích

Những Ngụy Biện của Giả Định

Võ Hồng Long dịch

Lảng Tránh Sự Thật[17]

Trong loại sai lầm giả định này, những lỗi mắc phải không chỉ là việc bỏ qua một số yếu tố khác mà còn là việc tạo ra cho chúng ta cảm giác rằng luận điểm đó đã giải quyết tất cả các vấn đề liên quan nhưng thực tế lại chưa hề giải quyết. Những luận điểm như vậy đánh lừa chúng ta bằng cách nói rằng một vấn đề nào đó đã được đề cập đến nhưng thực tế lại hoàn toàn khác.

Có bốn kiểu sai lầm trong loại sai lầm này. Sai lầm do không đi thẳng vào vấn đề (lý lẽ vòng quanh) là việc giải quyết vấn đề bằng cách lặp lại nó. Không tập trung vào vấn đề theo kiểu ngôn ngữ cường điệu là việc lảng tránh một kết luận hợp lý bằng cách xét đoán các yếu tố. Câu hỏi phức hợp lảng tránh sự thật bằng cách tranh luận về một vấn đề khác với vấn đề đang bàn. Cuối cùng, sự biện hộ đặc biệt làm cho chúng ta xem xét vấn đề trên quan điểm thiên vị.

4. Lập Lại Vấn Đề[18]

Sai lầm do lặp lại vấn đề xảy ra khi thay vì đưa ra lời chứng minh hay giải thích cho một kết luận thì người nói lại nhắc lại vấn đề đó theo một cách khác. Những luận điểm như vậy làm cho chúng ta tin rằng một điều đã được thừa nhận nhưng thực tế thì nó chỉ mới được diễn đạt lại. Nếu là một luận điểm đơn giản thì có rất ít điều để nói.

a. Niềm tin vào Chúa là phổ biến vì mọi người tin vào Chúa.

Trong ví dụ này từ "phổ biến" và từ "mọi người" có tính tương đương với nhau, luận điểm này chỉ nhắc lại vấn đề mà không chứng minh nó. Lập luận như vậy thiếu những cơ sở do đó thay vì chứng minh nó chúng ta lại lập luận bằng cách nhắc lại những điều đã được nói ra dưới một cách khác. Nhắc lại kết luận dưới một dạng khác không nên được sử dụng để chứng minh cho kết luận đó.

Thiếu tá Richard Daley đã áp dụng cách lập luận này một cách hỏm hỉnh để lảng tránh sự thật khi ông được hỏi tại sao Thượng Nghị Sĩ Hubert Humphrey lại thất bại trong cuộc bầu cử ở Bang Illinois. Daley đã trả lời rằng "Vì ông ta không có đủ số phiếu" trong khi câu hỏi kia thực sự là: "Tại sao ông ta không có đủ số phiếu?" Một ví dụ khác Tổng Thống Calvin Coolidge đã có lần nói rằng "Khi một số lượng lớn người không có việc làm, nạn thất nghiệp sẽ xẩy ra". Lập luận trên đây chỉ thuần tuý diễn giải lại điều được nói trước đó chứ không đưa ra được sự chứng minh hoặc cái giải thích hợp lý. Trong vở kịch nổi tiếng của Mô-Li-E, một nhà tâm lý học đã giải thích về tác dụng gây buồn ngủ của thuốc phiện bằng cách nêu ra thuộc tính gây buồn ngủ của loại thuốc này. Đây chính là việc giải thích một vấn đề bằng một vấn đề tương tự cần giải thích. Có thể nói là một sự giải thích luẩn quẩn và chúng ta có thể xem đó không phải là sự giải thích thực sự. Ví dụ: Tom đã tự tử vì anh ta muốn chết, hoặc anh ta ngã vì anh ta đã rơi từ trên cao xuống. Những kiểu giải thích như vậy chẳng nói gì hơn ngoài việc Tom tự tử hoặc người đàn ông kia bị ngã.

Trong nhiều trường hợp chúng ta rất khó khăn để phát hiện ra sự giải thích lặp lại này. Hãy xem xét ví dụ sau:

b. Tự do thương mại sẽ tốt cho quốc gia này. Lý do hoàn toàn rõ ràng. Những hoạt động thương mại không bị hạn chế sẽ mang lại lợi ích cho nước này khi việc buôn bán giữa các nước không bị trở ngại.

Cụm từ "quan hệ thương mại không bị hạn chế" là một cách nói khác của tự do thương mại và cách lập luận dài dòng cũng chỉ để nói rằng "điều này tốt cho quốc gia đó".

Kiểu lập luận như vậy là cách nói lòng vòng, luẩn quẩn. Cách lập luận này đã sử dụng khả năng của ngôn ngữ có thể diễn đạt vấn đề theo một cách khác. Cũng giống như câu chuyện ba người đàn ông buộc ngựa: mỗi người buộc con ngựa của mình vào con ngựa của người kia và nghĩ rằng như thế sẽ giữ được lũ ngựa. Sau đó lũ ngựa đã chạy đi mất bởi vì chúng được buộc vào nhau theo hình mỏ neo chứ không phải buộc vào một vật cố định nào đó.

Sau đây là một ví dụ về sự giải thích luẩn quẩn đó. Chuyện xảy ra tại một công ty cho vay vốn:

c. QUẢN LÝ: làm sao công ty chúng tôi biết được ông là người trung thực và đáng tin, thưa ông Smith?

SMITH: Ồ, tôi nghĩ là ông Jones sẽ bảo đảm cho tôi.

QUẢN LÝ: Tốt. Chúng tôi có thể tin vào lời của ông Jones không?

SMITH: Tất nhiên là có rồi thưa ông? Tôi chắc chắn về những gì ông Jones làm.

Nếu ông Jones bảo đảm cho ông Smith và ngược lại, thì chúng ta lại trở lại điểm khởi đầu.

Kiểu lý luận lòng vòng này có thể tóm tắt như sau: A có những đặc điểm nào đó là do có B. Nhưng B chỉ đúng khi A đúng. Vấn đề là A có đúng hay không lại chưa được làm rõ. Vấn đề lại được lặp lại. Sau đây là một ví dụ nữa:

d. Chúa tồn tại! (A)

Làm sao anh biết?

Vì Kinh thánh nói như vậy. (B)

Làm sao anh biết Kinh thánh nói đúng?

Bởi vì Kinh thánh là lời nói của Chúa! (A=B)

Kiểu lập luận như vậy đôi lúc còn được gọi là "lập luận vòng tròn"[19] để chỉ ra rằng dù chúng ta có cố gắng thế nào thì chúng ta cũng bị quay trở lại vấn đề. (TQ hiệu đính, ai có thể chứng minh kinh thánh là lời nói của Chúa?).

Một ví dụ khác

e. Con người ta không thể không hành động trong trường hợp đó.
Tại sao?
Bởi vì họ luôn làm theo những động cơ mạnh mẽ nhất.
Vậy cái động cơ mạnh mẽ nhất đó là gì?
Đó là cái khiến họ phải làm theo.

Một lập luận thuyết phục phải đưa ra những căn cứ, lý do xác đáng để chứng minh cho một kết luận. Nhưng nếu những lý lẽ chỉ nhắc lại lời kết luận đó theo một cách khác thì lập luận đó không có căn cứ và chỉ là sự sai lầm.

Một dạng phổ biến của sai lầm do lặp lại vấn đề là việc sử dụng những cái được tổng quát không có căn cứ để chứng minh cho một kết luận mà kết luận đó sẽ nằm trong cái được tổng quát đó nếu đó là một kết luận đúng.

Ví dụ:

f. Sở hữu nhà nước đối với các dịch vụ công cộng là một học thuyết nguy hiểm, bởi vì đó là xã hội chủ nghĩa.

Nếu một luận điểm rộng hơn (chủ nghĩa xã hội là nguy hiểm) được thừa nhận thì vấn đề chủ yếu được thảo luận ở đây -- nhà nước sở hữu các dịch vụ công cộng -- là phù hợp. Những người có quan điểm đối lập có thể xem giả định này là tương đương.

Hãy xem xét ví dụ sau:

g. Sự tàn nhẫn của anh ta là do tính nhút nhát trong chính bản thân anh ta, vì mọi người nhút nhát đều tàn nhẫn.

Ở đây, một cái có tính khái quát rộng hơn đã được sử dụng để chứng minh cho vấn đề đặt ra. Trong khi tính đúng đắn của cái có tính khái quát rộng hơn vẫn chưa được chứng minh thì cái được khái quát rộng hơn lại được sử dụng để chứng minh cho vấn đề đặt ra, và như vậy chúng ra lại lặp lại vấn đề. Nếu một vấn đề cần chứng minh (là một ví dụ của cái được khái quát rộng hơn), thì chắc chắn rằng cái được khái quát rộng hơn đó cũng cần phải chứng minh.

Sai lầm do lặp lại vấn đề có thể xảy ra dưới hình thức ngược lại. Tức là nếu một cái đã được khái quát nhưng chưa được chứng minh được dùng để chứng minh cho một vấn đề cụ thể thì cũng có thể xảy ra trường hợp ngược lại một vấn đề cụ thể nào đó chưa được chứng minh lại được sử dụng để chứng minh cho một cái được tổng quát.

Xem ví dụ sau:

h. Tôi không cần nghe thêm bằng chứng cho vấn đề này, vì tôi đã hiểu rõ nó. Đó có phải là một trường hợp nữa về một người trẻ tuổi đã giết chết một người già? Tôi biết rằng những việc như vậy đều là do môi trường sống lúc còn trẻ. Vụ việc này chắc chắn phải là như vậy vì nó càng khẳng định thêm niềm tin của tôi là mọi vụ người trẻ giết người già có nguyên nhân là những trải nghiệm ở thời thơ ấu của kẻ giết người.

Đây là một vụ án mà tội phạm được cho rằng đã được thực hiện do ảnh hưởng của môi trường xấu lúc còn nhỏ. Luận điểm này lại được sử dụng để chứng minh cho một điều rộng hơn là: những tội phạm như thế (trẻ con giết người lớn) đều có nguyên nhân từ ảnh hưởng của môi trường sống lúc còn nhỏ. Nhưng điều được khái quát rộng hơn này vẫn đang còn không rõ ràng, nó cần được chứng minh rõ hơn. Trường hợp cụ thể này (vụ án đang đề cập) không thể được sử dụng để chứng minh cho điều đã khái quát do bản thân trường hợp này cũng cần được chứng minh. Có hai khía cạnh cần làm rõ để phân biệt một lập luận thuyết phục và cách lập luận mà chúng ta đang bàn đến.

Thứ nhất, những luận điểm thuyết phục chứa đựng các luận cứ nhằm xác nhận lại các thông tin trong kết luận mà không phải là lặp lại nó. Thứ hai, một lập luận thuyết phục chứa đựng các cơ sở chính xác và rõ ràng chứ không phải là những luận điểm chưa được chứng minh. Những luận điểm chính xác và rõ ràng, ví dụ như: một người không thể ở hai địa điểm khác nhau trong cùng một lúc; đây là luận điểm mà khi sử dụng không cần phải chứng minh gì thêm. Nhưng lập luận theo kiểu vòng vo lại thuyết phục người nghe bằng cách đưa ra những chứng cứ không rõ ràng, chưa được chứng minh.

Sai lầm do lặp lại vấn đề sẽ dễ dàng nhận biết nếu chúng ta xem xét các lập luận trên quan điểm chúng ta chỉ chấp nhận những điều thuộc phạm vi của vấn đề được đặt ra. Nếu có ai đó nói rằng, tự sát là tội phạm vì đó là tội phạm giết chính mình. Chúng ta không bị bắt buộc phải chấp nhận ý kiến cho rằng một người tự lấy đi mạng sống của mình là phạm tội giết người (chính mạng mình).

· Lặp lại vấn đề hoặc không tập trung vào vấn đề là việc sử dụng các yếu tố giống như yếu tố chúng ta đã đặt ra trước đó để chứng minh, điều này gây nên sự lảng tránh hoặc bỏ qua vấn đề cần chứng minh.

· Những cố gắng tạo chứng minh cho một quan điểm bằng cách sử dụng những lời giải thích giống như quan điểm đã đặt ra cũng là sai lầm.

· Sai lầm có thể xảy ra dưới dạng:

* A như vậy là bởi vì B; trong khi B cũng giống như A hoặc B phụ thuộc vào A hoặc B thậm chí không đáng tin bằng A.
* A đúng vì B đúng; nhưng B chỉ đúng nếu A đúng. Vấn đề vấn chưa được giải quyết là liệu A có đúng hay không? Đó là việc lặp lại vấn đề.

Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.

Morris S. Engel. Với Lý Luận Giỏi -- Giới Thiệu Những Ngụy Biện Thông Thường. x/b 5th. New York: St. Martin's Press, 1994.

Phần I

Chương 1: Bản Chất và Phạm Vi của Lo-gic

1. Lý Luận vừa là Một Môn Khoa Học và Môn Nghệ Thuật

2. Lo-gic là Nghiên Cứu về Tranh Luận

3. Tranh Luận và Không-Tranh-Luận

4. Loại Bỏ Sự Dông Dài

5. Những Bộ Phận Khuyết Thiếu

6. Làm Nổi Bật những Thành Phần Khả Nghi

7. Đánh Giá các Tranh Luận: Đúng, Giá Trị và Hợp Lý

8. Những Tranh Luận Suy Diễn và Quy Nạp

9. Lý Luận và Giáo Dục

10. Tóm Tắt

Chương 2: Phương Tiện Truyền Đạt của Ngôn Ngữ

1. Ngôn Ngữ và Tư Duy

2. Dấu Hiệu và Biểu Tượng

3. Từ ngữ và Vật Chất

4. Sự Hữu Dụng của Ngôn Ngữ

5. Sự Tối Nghĩa và Mơ Hồ

6. Những Tranh Luận về Từ Ngữ

7. Định Nghĩa

8. Nghệ Thuật Nói Chuyện Trực Tiếp

9. Tóm Tắt

Phần II

Chương 3: Những Ngụy Biện do Sự Tối Nghĩa

0. Ngụy Biện" hay "Sai lầm"

1. Lối Nói Lập Lờ

2. Câu Nói Nước Đôi

3. Dấu Trọng Âm

4. Phép Tu Từ

5. Sự Phân Hóa và Kết Cấu

6. Tóm Tắt

Chương 4: Những Ngụy Biện của Giả Định

Bỏ Qua Những Yếu Tố Cơ Bản

1. Khái Quát Hoá

2. Gôm Đũa Cả Nắm

3. Lý Luận Rẽ Đôi

Lảng Tránh Sự Thật

4. Lập Lại Vấn Đề

5. Ngôn Ngữ Cường Điệu hay Thành Kiến

6. Phức Tạp Hóa Vấn Đề

7. Biện Hộ Đặc Biệt

Bóp Méo Sự Thật

8. Tương Đồng Giả Tạo

9. Sai Nguyên Nhân

10. Lý Luận Rập Khuôn

11. Luận Điểm Không Phù Hợp

12. Tóm Tắt

Chương 5: Ngụy Biện Tính Xác Đáng.

1. Công Kích Cá Nhân

Căn nguyên

Lăng mạ

Suy diễn gián tiếp

Xem ai nói đó

Đầu độc nguồn nước

2. Kêu Gọi Đám Đông

3. Kêu Gọi Lòng Thương

4. Kêu Gọi Quyền Lực

Quyền lực của cái duy nhất

Quyền lực của số đông

Quyền lực của số ít được lựa chọn

Quyền lực của truyền thống

5. Đánh Vào Sự Không Biết

6. Kêu Gọi Sự Sợ Hãi

7. Tóm Tắt

Phần III

Chương 6: Viết Rõ Ràng và Chặt Chẽ

1. Khái Quát Về Cấu Trúc Một Bài Luận

2. Xây Dựng Một Bài Luận

3. Chú Ý Cuối Cùng: Ngữ Pháp và Cách Sử Dụng

Chương 7: Những Bài Đọc Gợi Ý

[17] Evading the Facts
[18] Fallacy of Begging the Question
[19] vicious circle