|
kinhtehoc.comHội Ngộ của Lý Trí và Lợi Ích |
Những Ngụy Biện do Sự Tối Nghĩa[3]
Tô Yến Nhi dịch
Vi phạm của lối nói lập lờ là cho phép một từ mấu chốt trong một lý luận để thay đổi ý nghĩa của nó trong quá trình của lý luận. Theo nghĩa đen, lối nói lập lờ (equivocation) xuất phát từ tiếng Latin. Một từ được sử dụng đơn nghĩa (univocally) nó có nghĩa giống nhau trong mọi ngữ cảnh được đưa ra, được sử dụng lập lờ (equivocally) nếu hai (2) ý nghĩa hay nhiều hơn xãy ra cùng một lúc.
Xem xét ví dụ này:
Tranh luận này đánh đồng việc lắng nghe lý do với những lý do về một điều gì đó. Nhưng tranh luận này rất khác nhau về cách sử dụng từ lý do. Trong cách sử dụng đầu tiên, lý do có nghĩa là "sự hợp lý buộc chúng ta đồng ý với nó". Trong cách sử dụng thứ hai, lý do có nghĩa "một hỗ trợ cho lý luận" mà có thể hoàn toàn không có sức thuyết phục và không buộc chúng ta nhất trí.
Khi sự thay đổi trong ý nghĩa của một từ mấu chốt trong suốt một lý luận đặc biệt tinh tế, phần kết thúc dường như xãy đến một cách rõ ràng từ giả thuyết và lý luận sẽ xuất hiện nhiều âm thanh đáng kể hơn.
Trong ngữ cảnh của lý luận này, từ dồi dào và hơn ở câu đầu tiên dường như tương đương. Tuy nhiên, trong sự xem xét gần hơn, câu đầu tiên dường như nói về sự phân bố tài sản, còn câu thứ hai nói về số lượng.
Sự sai lầm về lối nói lập lờ này đặc biệt dễ dàng khi xem xét khi một từ mấu chốt trong một lý luận trở thành một hình thái của lời nói hay một phép ẩn dụ. Bằng cách làm sáng tỏ một phép ẩn dụ theo nghĩa đen, đôi khi chúng ta tự thuyết phục bản thân mình rằng một lý luận lại trở nên hợp lý hơn. Một số ít người dường như có khái niệm sai bởi một hình thái của diễn văn như "anh ta trông có vẻ gầy yếu và đói khát", và ngôn ngữ của chúng ta sẽ nghèo nàn hơn nếu không có những miêu tả như thế. Nhưng nhiều sự miêu tả hình thái cần được sử dụng với sự thận trọng.
Sự miêu tả thị hiếu công chúng (public interest) ở đây có nghĩa là "lợi ích của công chúng" (public welfare) trong giả thuyết đầu tiên, nhưng nó có nghĩa là "những gì công chúng tò mò" (what the public is interested in) trong giả thuyết thứ hai. Ví thế, lý luận là sự ngụy biện vì những gì công chúng tò mò không giống như những gì lợi ích cho công chúng.
Lý luận dưới đây tương tự như trên:
Đâu là cách sử dụng ẩn dụ của điều kỳ diệu và đâu là theo nghĩa đen? Sư miêu tả những điều kỳ diệu của khoa học nghĩa là gì? Một sự thay đổi tương tự trong ý nghĩa là đặc điểm của lý luận kế tiếp. (TQ hiệu đính, sự kỳ diệu của khoa học là những thành quá có thể mắt thấy tai nghe, và sự kỳ diệu của Thánh Kinh thì không! Đo đó, không thể đánh đồng hai ý nghĩa kỳ diệu được, vì nó khác xa).
Kết luận là một nguỵ biện bởi vì cách nói lập lờ tranh luận về ý nghĩa của "quyền lực" (authority). (TQ bổ sung, ông ta không đủ quyền lực như là khả năng ngăn cản sinh viên đi biểu tình, đâu có nghĩa ông ta không có quyền lực như là trách nhiệm của một vị hiệu trưởng giáo dục sinh viên nếu như họ làm sai!).
Lối nói lập lờ không hạn chế những miêu tả tượng trưng, phần lớn những từ ngữ của chúng ta có nhiều hơn một nghĩa, bất cứ ý nghĩa nào cũng có thể là nguồn gốc của sự sai lầm. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều ví dụ về lối nói mập mờ trong tác phẩm của Lewis Carroll, Through the Looking Glass.
Khai thác cách nói nước đôi.
Vừa là một nhà toán học người Anh thời đại Victoria và tác giả của một quyển sách lo-gic, Carroll kết hợp những câu chuyện của ông ta thành nhiều nghịch lý của ngôn ngữ và của tư duy lo-gic.
Giữa các từ ngữ với những ý nghĩa phức tạp mà dễ bị ảnh hưởng của lối nói nước đôi là những ý nghĩa tối nghĩa và vô định. Từ thực hành trong ví dụ sau đây là thuộc về dạng này.
Ở một mức độ về trực giác, lý luận này dễ nhận biết là không hợp lý bởi vì một bác sĩ không thể đánh đồng với tất cả nhiều bác sĩ khác; tất nhiên cô ta không thể nghiên cứu y học trong hàng ngàn năm để trở nên thành thạo. Mặt khác, xem lại lý luận như một ví dụ về lối nói lập lờ, cho phép chúng ta thấy những thiếu sót của nó rõ ràng hơn. Trong mức độ này chúng ta có thể nhận thấy rằng không thể phân biệt được giữa những gì có thể được gọi là thực hành y học như một nghề nghiệp đã tồn tại hàng ngàn năm, và thực hành y học của một bác sĩ. Hơn nữa, chúng ta có thể nhận ra rằng thực hành được sử dụng theo ý nghĩa hiện thời khác trong giả thuyết, "thực hành làm nên hoàn hảo".
Sự phân tích như thế cũng cho phép chúng ta thấy tại sao lý luận chứa những sai lầm của lối nói lập lờ thường xuất hiện hợp lý. Bởi vì giả thuyết ngoài những điều mà chúng tạo nên là không đáng chê trách khi nhận thấy riêng lẻ, bất cứ sự thay đổi nào về mặt ý nghĩa từ một lời phát biểu này đến lời phát biểu khác có thể thoát khỏi sự chú ý của chúng ta. Cả hai giả thuyết trong lý luận (e) ở trên đều hợp lý. Khi chúng được đặt với nhau thành một thể trong lý luận, lý luận dường như hợp lý ngoại trừ việc độc giả nhận ra một từ mấu chốt bị thay đổi ý nghĩa như nó xuất phát từ một giả thuyết này đến giả thuyết khác. Thật ra đây là phương pháp hiệu quả nhất để kiểm tra sự hợp lý của những lý luận như thế. Nếu bạn nghi ngờ rằng một từ mấu chốt bị thay đổi ý nghĩa của nó, đơn giản là đọc lại lý luận, giữ cho ý nghĩa của từ đáng ngờ vực đó không thay đổi về hình thức. Trong nhiều trường hợp, phương pháp kỹ thuật này sẽ bộc lộ một giả thuyết hay kết luận không hợp lý.
Nó hữu ích để nhớ rằng ở nguồn gốc của nhiều trường hợp về lối nói nước đôi được coi là hợp lý rằng chúng ta không mâu thuẫn với chính mình, chúng ta kiên định. Tuy nhiên xu hướng kiên định có thể là một cái bẫy. Xem ví dụ này cách đây một vài thế kỷ:
Câu trả lời của chúng ta trong trường hợp này là : từ luật được được sử dụng trong ngữ cảnh của "luật của tự nhiên" có ý nghĩa đơn giản "tuân theo quy tắc" và luật được sử dụng trong ngữ cảnh của "người ban hành luật" có nghĩa là "tập hợp những mệnh lệnh". [...]
Để cung cấp tài liệu tương tự là ví dụ hơi dài hơn:
Câu trả lời của chúng ta: Sự thật chúng ta tin tưởng rằng tất cả chúng ta đều có quyền như nhau không có nghĩa là chúng ta cũng phải tin rằng tất cả chúng ta có khả năng như nhau (và vì thế không thể được đối xử "công bằng",… làm ra cùng một mức lương). Đây vẫn là một ví dụ tinh tế hơn:
Câu trả lời của chúng ta: cụm từ mong muốn đấu tranh về cơ bản có nghĩa là " bạo lực", và cụm từ không có đấu tranh nghĩa là "cương quyết", "động lực" hay "lòng can đảm", nó rất có thể loại trừ một yếu tố (bạo lực) mà không có sự huỷ diệt tất yếu khác (lòng can đảm của chúng ta).
Cuối cùng, xem xét ví dụ này từ một biên tập viên:
Có sự mâu thuẫn giữa phản đối việc thi hành án tử hình đáng trừng phạt một mưu can sát nhân và không phản đối việc kết thúc sự sống " của hàng triệu trẻ em vô tôi bởi nạn phá thai" không? Trong một trường hợp, có liên quan tới mạng sống của con người, trong trường hợp khác mạng người có thể không có liên quan (vì có những cuộc tranh luận rằng một bào thai thì chưa phải là con người và dĩ nhiên thậm chí chưa thể gọi là "sự sống"). Chúng ta thấy từ những ví dụ này chúng ta sử dụng những từ ngữ sâu sắc như thế nào để tự chúng ta diễn tả thành suy nghĩ được hình dung trong lý luận.
Một ví dụ đặc biệt nổi bật về ảnh hưởng trực tiếp của ngôn ngữ trong tư duy là sự sai lầm phổ biến mắc phải do triết gia người Anh John Stuart Mill, một trong những tác phẩm của ông ta về đạo đức học. Ở đây Mill đưa ra câu hỏi kết cuộc hay mục tiêu đáng ao ước nhất với tư cách đạo đức con người là gì và tranh luận rằng nó là hạnh phúc, như giảng dạy theo thuyết vị lợi. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể chứng minh hạnh phúc đó là một quan niệm quả thực đúng mà chúng ta nên mơ ước. Đây những câu trả lời này của Mill:
"Bằng chứng duy nhất được đưa ra là một vật thể hữu hình có thể thấy được vì con người thực sự nhìn thấy. Bằng chứng duy nhất rằng một âm hữu thanh có thể nghe được vì con người nghe được: và vì thế cũng là bằng chứng của các nguồn gốc khác về kinh nghiệm của chúng ta. Trong cách thức giống nhau, tôi thấy rõ, bằng chứng duy nhất có thể đưa ra bất cứ điều gì được ao ước, là những gì con người thật sự mong muốn nó." (Thuyết vị lợi "Utilitarianism", chương 4 ).
Những nhà phê bình Mill đã vạch ra rằng ông ta đã bị đánh lừa bởi kiểu cách miêu tả của chính mình. Mặc dù những từ ao ước, hữu hình, và hữu thanh là tương tự nhau về cấu trúc, chúng không giống nhau về ngữ nghĩa. Đáng ao ước thì không có liên quan tới sự mong muốn trong hình thức giống nhau mà hữu hình và hữu thanh có liên quan đến thấy và nghe, đối với việc đòi hỏi một nét đặc trưng về phẩm chất mà hai yếu tố khác không có. Hữu hình có nghĩa đơn giản là một vật gì đó "có khả năng nhìn thấy được" ( và hữu thanh có nghĩa là một điều gì đó " có thể nghe thấy được"), nhưng đáng được ao ước ngụ ý rằng điều gì đó "xứng đáng để ao ước", điều đó "phải" được mong muốn. Điều này hiện tại như thể, nó có thể khá đúng rằng một điều gì được nghe hay nhìn thấy chứng tỏ rằng nó hữu hình và hữu thanh, nhưng "đáng ao ước" không theo quy tắc đó, bởi vì một điều được mơ ước, đáng được ao ước vì lý do đó. Ví dụ, nhiều người có thể mong muốn ma tuý, nhưng điều đó không chứng tỏ rằng ma tuý đáng được ao ước.
Sự sai lầm của lối nói lập lờ là những lý luận mà hai ý nghĩa khác nhau của một từ hay thành ngữ mấu chốt bị nhầm lẫn. Từ hay ngữ vẫn giữ nguyên nhưng ý nghĩa nó đem lại làm thay đổi chiều hướng của lời phát biểu hay lý luận.
Khó khăn hơn là những trường hợp mà sự sai lầm được sử dụng như một cách thức kết tội chúng ta về sự mâu thuẫn hay trái ngược nhau như trong ví dụ: "nếu bạn tin vào điều kỳ diệu của khoa học, vậy tại sao bạn không tin vào điều kỳ diệu của Kinh Thánh?"
Chúng ta nên trả lời: từ "những điều kỳ diệu của khoa học" chúng ta có ý nói những thành quả hay thành tựu vĩ đại của khoa học và không có điều gì trái với quy luật tự nhiên; như trong trường hợp "những điều kỳ diệu của Kinh thánh", chúng ta có mâu thuẫn khi tin tưởng vào một cái này (hay Thượng Đế) và không tin tưởng vào cái khác (hay những thượng đế khác).
Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.
Engel, Morris S. With Good Reason -- An Introduction to Informal Fallacies. 5th ed. New York: St. Martin's Press, 1994.
Morris S. Engel. Với Lý Luận Giỏi -- Giới Thiệu Những Ngụy Biện Thông Thường. x/b 5th. New York: St. Martin's Press, 1994.
Chương 1: Bản Chất và Phạm Vi của Lo-gic
1. Lý Luận vừa là Một Môn Khoa Học và Môn Nghệ Thuật
2. Lo-gic là Nghiên Cứu về Tranh Luận
3. Tranh Luận và Không-Tranh-Luận
4. Loại Bỏ Sự Dông Dài
5. Những Bộ Phận Khuyết Thiếu
6. Làm Nổi Bật những Thành Phần Khả Nghi
7. Đánh Giá các Tranh Luận: Đúng, Giá Trị và Hợp Lý
8. Những Tranh Luận Suy Diễn và Quy Nạp
9. Lý Luận và Giáo Dục
10. Tóm Tắt
Chương 2: Phương Tiện Truyền Đạt của Ngôn Ngữ
2. Dấu Hiệu và Biểu Tượng
3. Từ ngữ và Vật Chất
4. Sự Hữu Dụng của Ngôn Ngữ
6. Những Tranh Luận về Từ Ngữ
7. Định Nghĩa
8. Nghệ Thuật Nói Chuyện Trực Tiếp
9. Tóm Tắt
Chương 3: Những Ngụy Biện do Sự Tối Nghĩa
3. Dấu Trọng Âm
4. Phép Tu Từ
6. Tóm Tắt
Chương 4: Những Ngụy Biện của Giả Định
Bỏ Qua Những Yếu Tố Cơ Bản
Lảng Tránh Sự Thật
5. Ngôn Ngữ Cường Điệu hay Thành Kiến
Bóp Méo Sự Thật
12. Tóm Tắt
Chương 5: Ngụy Biện Tính Xác Đáng.
Căn nguyên
Lăng mạ
Suy diễn gián tiếp
Xem ai nói đó
Đầu độc nguồn nước
Quyền lực của cái duy nhất
Quyền lực của số đông
Quyền lực của số ít được lựa chọn
Quyền lực của truyền thống
7. Tóm Tắt
Chương 6: Viết Rõ Ràng và Chặt Chẽ
1. Khái Quát Về Cấu Trúc Một Bài Luận
3. Chú Ý Cuối Cùng: Ngữ Pháp và Cách Sử Dụng
Chương 7: Những Bài Đọc Gợi Ý