![]() |
|||
|
Home >> Kinh Tế >> Phân Tích Lợi Hại |
|||
CBA / Phân Tích CHƯƠNG 5: Định Giá Đầu-Ra (output) Sử Dụng các Mức Giá Thị Trường Allen S. Bellas và Richard O. Zerbe Phiên dịch: Lê Thủy
5.4 Khi có các tác nhân ngoại sinh (Externalities)Như nhắc tới ở trên, lượng cắt giảm sản xuất tư cần phải được định giá theo giá trị cận biên của sản lượng bị cắt giảm. Nếu việc sản xuất tư một đầu-ra (output) của một dự án một ngoại ứng tiêu cực thì cần phải đưa giá trị của thiệt hại ngoại sinh tránh được vào trong lợi ích của việc cắt giảm sản xuất tư. Một cách rõ ràng hơn, khi một dự án bắt đầu tạo ra một đầu-ra nào đó, lượng sản xuất tư của đầu-ra (output) đó giảm xuống và thiệt hại do ô nhiễm do hoạt động sản xuất đó gây ra cũng giảm đi. Lợi ích của dự án là phần chi phí biên của sản xuất tư bị cắt giảm cộng với phí ô nhiễm tránh được do không sản xuất tư lượng đầu-ra (output) bị cắt giảm đó. Hình 5-3a mô tả một ngoại ứng tiêu cực điển hình. Có một lượng cầu nhất định cho đầu-ra (output) của dự án hay giá trị cận biên của đầu-ra (output) (D=MV). Có đường chi phí biên của sản xuất tư tăng (Private Marginal Cost ~ PMC). Phần giao nhau của đường PMC và đường cầu cho ta lượng thị trường q0. Ở mức lượng này, giá thị trường sẽ bằng với chi phí cận biên tư song chi phí cận biên xã hội (Social Marginal Cost ~ SMC) sẽ bằng mức chi phí cận biên tư cộng thêm một số thiệt hại ngoại sinh cận biên. SMC là tổng chi phí của các nguồn lực được dùng để sản xuất thêm một đơn vị đầu-ra (output) trong khu vực tư nhân.[10] Hình 5 - 3a
Nếu một dự án sản xuất ra một lượng lớn sản phẩm này, mức giá sẽ giảm và kết quả là khối lượng sản xuất tư mặt hàng đó cũng giảm. Chi phí tiết kiệm được từ việc cắt giảm này cần được định giá dọc theo đường chi phí xã hội cận biên. Thế nên, bất kỳ một cắt giảm nào trong sản xuất tư cũng là lợi ích và cần phải được định giá ở mức giá thị trường cộng với giá trị của thiệt hại ngoại sinh cận biên như thể hiện trong Hình 5-3b. Mức cắt giảm trong sản xuất tư từ q0 xuống qp làm giảm lượng đầu vào tư và đầu vào xã hội được sử dụng. Hình 5-3b
Hình 5-3c xét toàn bộ tác động do đầu-ra (output) của một dự án gây nên. Một dự án hoàn thành và tạo ra một đầu-ra (output) nào đó. Sản lượng ban đầu trên thị trường là q0 trước khi có dự án. Dưới tác động của dự án, lượng do các nhà cung cấp tư sản xuất giảm từ mức q0 xuống mức qp trong khi tổng lượng cung cấp cho thị trường tăng lên mức qt. Giá trị của đầu-ra (output) được thể hiện như vùng bôi sẫm trên đồ thị và có thể chia thành hai phần. Vùng phía bên trái là chi phí tiết kiệm được từ sản xuất tư bị cắt giảm. Như minh hoạ trong Hình 5-3b, những khoản tiết kiệm này bao gồm cả chi phí tư và chi phí ngoại sinh. Phía bên phải của vùng bôi thẫm là giá trị của đầu-ra (output) tăng thêm đối với người tiêu dùng được định giá dọc theo đường cầu. Hình 5-3c
Do tác động của dự án, giá thị trường sẽ giảm từ mức p0 xuống mức p1. Tuy nhiên, việc đơn thuần lấy những mức giá này để định giá đầu-ra (output) của dự án mà bỏ qua lượng thiệt hại ngoại sinh giảm bớt (thiệt hại do ô nhiễm gây ra giảm bớt) do thu hẹp đầu-ra (output) của sản xuất tư là không đúng.
Ví dụ: Hình dung rằng một nước có phương thức sản xuất điện thô sơ là đốt than đá có nồng độ sulfua cao. Việc đốt than gây ra mưa axit và thiệt hại môi trường quy mô lớn. Nước đó đang tính đến chuyện mở cửa biên giới cho sản phẩm điện của nước khác có khả năng sản xuất điện bằng những cách khác. Giá điện hiện thời tại nước đó là $50 một mê-ga-oat/giờ song người ta kỳ vọng là với việc nhập khẩu điện một cách tự do, giá điện sẽ giảm xuống còn khoảng $40, mức giá hiện hữu ở các nước láng giềng. Ở mức giá thấp hơn này, cầu của người tiêu dùng sẽ tăng thêm 100,000 mê-ga-oat/giờ hàng năm. Hơn thế, mức giá thấp hơn được mong đợi là sẽ đẩy cho một số nhà máy sản xuất điện bằng than đá hoạt động kém hiệu quả phải đóng cửa dẫn đến lượng điện được sản xuất trong nước giảm 70,000 mê-ga-oat/giờ.
Tổng lượng điện năng được nhập khẩu nếu mở cửa thị trường nội địa cho các nhà sản xuất điện năng nước ngoài dự kiến vào khoảng 170,000 mê-ga-oat/giờ. Đây chính là tổng lượng tiêu dùng gia tăng và lượng sản xuất tư cắt giảm. Nếu lấy giá trị trung bình của mức giá trước dự án ($50) và sau dự án ($40) ta sẽ thu được lợi ích là
hay $7.65M. Tuy nhiên, giá trị này bỏ qua thiệt hại ô nhiễm bị cắt giảm do thu hẹp sản xuất điện trong nước. Thế nên, con số này phải được coi là chưa phản ánh đầy đủ lợi ích thực. Lợi ích thu được sẽ lớn hơn bao nhiêu nếu ta tính đến khoản thiệt hại về môi trường tránh được còn tuỳ thuộc vào lượng mưa axit giảm bớt do thu hẹp sản xuất và giá trị đi kèm. Nếu việc sản xuất thêm 01 mê-ga-oat/giờ gây ra thiệt hại ngoại sinh là $8 thì lợi ích của việc cắt giảm sản xuất nội địa sẽ tăng thêm $560,000.
Có thể trình bày những kết quả này dưới dạng ghi lại lợi ích tăng thêm đối với mỗi giá trị khác nhau của thiệt hại ngoại sinh có được từ việc sản xuất thêm 01. Có thể lấy giá thị trường để định giá tiêu dùng tư gia tăng của đầu-ra (output) bởi giá trị cận biên của người tiêu dùng bằng với mức giá thị trường mà không tính đến những thiệt hại ngoại sinh. Một điểm cần bổ sung ở đây là nếu thuế được dùng với mục đích khắc phục thiệt hại do hiệu ứng ngoại sinh tiêu cực gây ra (hay còn gọi là thuế Pigouv) thì lượng thuế này phải đưa vào trong định giá mức tiêu dùng tư gia tăng và mức sản xuất tư bị cắt giảm. Lý do là bởi thuế đại diện cho các chi phí ngoại sinh liên quan đến việc sản xuất và/hay tiêu dùng mặt hàng đó. Nói cách khác, thuế đại diện cho chi phí của các nguồn lực không được mua bán sử dụng trong sản xuất ra đầu-ra (output). 5.5 Khi tồn tại những hoạt động kém hiệu quả khácHàng loạt các hoạt động kém hiệu quả của thị trường có thể đầu độc các thị trường đầu-ra (output). Hai quy tắc nêu ở phần mở đầu của chương này vẫn áp dụng trong việc xác định các giá trị thích hợp cho các tình huống khác nhau khi các thị trường hoạt động không hiệu quả ở một mức độ nhất định:
Tất cả các thị trường đều hoạt động không hiệu quả ở một mức độ nhất định. Những kỹ thuật mô tả trong phần này chỉ nên áp dụng khi độ không hiệu quả đó đủ nghiêm trọng khiến cho ta phải tính đến. Hãng độc quyền hay công ty với sức mạnh thị trường Nếu đầu-ra (output) của một dự án được đưa ra bán trên thị trường. Trong thị trường tồn tại những rào cản đáng kể cản trở một công ty mới nhập ngành. Những công ty hiện đang hoạt động có một sức mạnh thị trường nhất định. Có nhiều khả năng là mức giá thị trường cao hơn mức chi phí cận biên. Đó có thể là thị trường độc quyền trong đó chỉ có một hãng bán hàng, hay thị trường độc quyền nhóm trong đó một nhóm nhỏ các công ty chia nhau thị trường. Với mục đích minh hoạ, chúng ta sẽ sử dụng mô hình độc quyền thông thường để phân tích tình huống này. Hình 5-4 minh hoạ một hãng độc quyền có đường chi phí cận biên MC cung cấp cho một thị trường với mức cầu được cho bởi đường cầu D=MV. Sản lượng tối ưu hoá lợi nhuận, Q0 sẽ được xác định bởi điểm giao của đường doanh thu cận biên[11] và đường chi phí cận biên. Mức giá mà đường cầu đưa ra ở sản lượng này là P0. Việc bán đầu-ra (output) của một dự án sẽ khiến cho một hãng độc quyền (hay đã từng là hãng độc quyền) phải đương đầu với mức cầu giảm. Mức giảm này được thể hiện bằng việc đường cầu dịch chuyển từ D=MV sang D'.[12] Tại đường cầu mới ít hơn, hãng độc quyền sẽ chọn cung cấp một lượng ít hơn đầu-ra (output) QP ở mức giá P1. Phần bên trái của vùng bôi sẫm cho ta chi phí cắt giảm của hãng độc quyền được định giá dọc theo đường chi phí cận biên. Tổng đầu-ra (output) tăng từ mức Q0 lên Qt. Phía bên phải của vùng bôi sẫm là giá trị của tiêu dùng tăng thêm. Hình 5-4
Đầu-ra (output) chịu ảnh hưởng của các kiểm soát giá Khi giá đầu-ra (output) bán trên thị trường bị kiểm soát thì không có gì chắc chắn rằng các mức giá thị trường sẽ phản ánh chi phí cơ hội sản xuất của nhà cung cấp hay mức sẵn sàng chi trả cận biên của người tiêu dùng. Nếu áp đặt một mức giá trần hiệu quả cho một đầu-ra thì có khả năng sẽ xảy ra tình trạng khan hiếm đầu-ra. Tác động là giá trị cận biên của đơn vị đầu-ra (output) tăng thêm cao hơn mức giá kiểm soát. Trong trường hợp này, mức giá chính thức đặt giá trần là quá thấp để có thể định giá được một cách chính xác. Mức sẵn sàng chi trả cận biên có khả năng cao hơn rất nhiều. Nó có thể được dự đoán bằng các mức giá trên thị trường đen nếu có thể xác định được cá mức giá này một cách đáng tin cậy. Hoặc nếu xếp hàng chờ là một hình thức thường thấy của việc phân phối mặt hàng bị kiểm soát thì việc gắn một giá trị cho thời gian xếp hàng chờ trung bình có thể cho ta mức sẵn sàng chi trả dự kiến về phía người tiêu dùng tư. Ít nhất thì một phân tích cũng phải thừa nhận rằng mức giá trần thấp hơn giá trị thực của đầu vào rất nhiều. Ví dụ như, tưởng tượng rằng Hình 5-5 khắc hoạ một tình huống mà một mặt hàng phải chịu mức giá trần là $5. Kết quả là 400 đơn vị được cung cấp cho thị trường song ở giá trị cận biên của người tiêu dùng hay mức sẵn sàng chi trả là $20. Đầu-ra (output) do một dự án quy mô nhỏ sản xuất và bán ra thị trường một đơn vị mặt hàng này phải được định giá ở mức cao hơn mức giá trần là $5. Nếu đơn vị hàng làm ra được phân phối cho một người với giá trị cận biên là $20 thì giá trị của đầu-ra (output) của dự án phải là $20. Nếu đầu-ra (output) của một dự án chịu tác động của mức giá sàn hiệu quả được duy trì bởi một hệ thống hỗ trợ giá nào đó thì khó có thể xác định được giá trị thích hợp gắn cho đầu-ra (output) này. Giá trị đó có thể phụ thuộc vào cơ cấu chính xác của hệ thống trợ giá.[13] Trong phần lớn các trường hợp, cần phải tính đến sự tồn tại của một hệ thống trợ giá như trong phân tích một dự án tất nhiên là trừ trường hợp tiến hành phân tích đối với chính chương trình trợ giá. Với sự có mặt của hệ thống trợ giá, nhà sản xuất sẽ tiếp tục sản xuất cho đến khi các chi phí cận biên tăng lên mức giá được hỗ trợ. Chừng nào hệ thống trợ giá còn tồn tại thì chừng đó các nhà cung cấp tư (không phải là dự án) còn không cắt giảm sản lượng trước tác động của đầu-ra (output) do dự án sản xuất ra. Vậy nên bất kỳ lợi ích tiềm năng nào do dự án tạo rá sẽ có được từ việc tăng tổng lượng đầu-ra (output) dành cho tiêu dùng tư. Nếu vì một lý do nào đó, dự án khiến cho sản xuất tư suy giảm thì phải lấy mức giá được hỗ trợ để định giá lượng sản xuất tư cắt giảm vì mức giá này là chi phí cận biên. Trường hợp có nhiều khả năng sẽ xảy ra hơn là đầu-ra (output) của dự án được bổ sung vào lượng hàng dư thừa mà cơ quan hỗ trợ sẽ mua hoặc vào lượng hàng được phân phối trên thị trường. Nếu chương trình trợ giá tiến hành mua những lượng hàng sản xuất dư một cách hiệu quả rồi tiêu huỷ chúng mà không dùng vào việc gì có ích thì giá trị cận biên của đầu-ra (output) đó phải bằng 0 hay có thể mang giá trị âm nếu đầu-ra (output) của dự án là đắt đỏ. Nếu chương trình trợ giá chi trả cho các nhà sản xuất một khoản nhất định ngoài khoản tiền mà họ nhận được từ thị trường thì khoản chi trả này là một chuyển nhượng và phải dùng mức giá thị trường để định giá đầu-ra (output). Ví dụ như, hình dung rằng Hình 5-5 mô tả một tình huống mà trong đó một mặt hàng được hỗ trợ giá mà theo đó các nhà cung cấp mặt hàng đó ở mức giá là $20. Kết quả là các nhà cung cấp tư cung cấp 2400 đơn vị cho thị trường. Một dự án quy mô nhỏ sản xuất thêm một đơn vị của mặt hàng đó. Việc xác định được giá trị chuẩn của đầu-ra (output) do dự án sản xuất ra phụ thuộc vào chương trình trợ giá được vận hành như thế nào. Nếu chính phủ mua toàn bộ số hàng dư thừa ở mức giá $20 (trong trường hợp này lượng dư thừa là 2400-400=2000 đơn vị) và tiêu huỷ chúng thì đầu-ra (output) của dự án chỉ đơn giản là được vứt đi và sẽ được định giá ở mức 0. Mặt khác, nếu chính phủ chi trả cho các nhà cung cấp độ chênh lệch giữa mức giá thị trường phổ biến và mức giá sàn $20 thì các nhà cung cấp sẽ tiếp tục làm ra các đơn vị tăng thêm cho đến khi chi phí cận biên tăng lên mức $20, và lượng cung tư là 2400 đơn vị. Nếu một dự án tạo ra một đơn vị mặt hàng đó, nó sẽ được bán ra thị trường ở mức giá $5. Lúc đó, chính phủ sẽ trả một khoản là $15 cho cơ quan thực hiện dự án (giả định rằng cơ quan này có quyền được nhận khoản chi trả đó) song giá trị thích hợp gắn cho đầu-ra (output) là giá trị cận biên của người tiêu dùng là $5. Hình 5-5
Tóm tắtViệc gắn các giá trị cho đầu-ra (output) của dự án được bán trên thị trường thường thì nên là các quá trình tương đối dễ dàng. Nếu các thị trường đang hoạt động với độ hiệu quả hợp lý thì mức giá thị trường là một giá trị thích hợp. Đối với phần lớn các đầu-ra (output) của hầu hết các dự án, mức giá trước dự án là giá trị đúng để dùng trong phân tích chi phí, lợi ích. Nếu một dự án sản xuất ra một lượng đầu-ra (output) lớn và vì thế mức giá dự kiến sẽ giảm thì trung bình của mức giá trước dự án và sau dự án có thể là giá trị phù hợp. Nếu đánh thuế lượng đầu-ra (output) của một dự án được bán ra trên thị trường, mức độ mà những loại thuế này cần được đưa vào giá trị của đầu-ra (output) phụ thuộc vào việc liệu cơ quan thu thuế có vị thế hay không cũng như vào độ chênh lệch giữa lượng tiêu dùng gia tăng và lượng sản xuất tư bị cắt giảm. Ngoài thuế, có nhiều tác nhân khác có thể bóp méo thị trường và làm phân tích dự án trở nên phức tạp hơn. Những thiệt hại ngoại sinh liên quan đến việc tiến hành sản xuất tư đối với một đầu-ra (output) phải được đưa vào giá trị của sản xuất tư bị cắt giảm. Một sự đẩy giá lên trên mức chi phí cận biên của hãng độc quyền phải được đưa vào giá trị của lượng tăng ròng của đầu-ra (output) được trao đổi trên thị trường song lại không được tính đến trong giá trị của sản lượng cắt giảm của hãng độc quyền. Các kiểm soát giá có thể có hàng loạt các tác động tuỳ thuộc vào bản chất chính xác của từng kiểm soát giá. Quy tắc chung trong việc gắn các giá trị cho đầu-ra (output) là bất kỳ đầu-ra (output) tăng thêm nào được dự án tạo ra phải được định giá theo mức sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng như đường cầu đã cho. Bất kỳ cắt giảm nào trong sản xuất phải được định giá theo chi phí cận biên. Các hệ số co dãn, nếu có thể có, có thể được dùng để xác định kích cỡ tương ứng của lượng sản xuất tư cắt giảm và lượng tiêu dùng gia tăng. Nếu không thể có được các hệ số co dãn, sẽ là an toàn hơn nếu giả định rằng có một chênh lệch nhất định giữa hai mức giá về ngắn hạn và dài hạn và rằng về dài hạn, độ co dãn cung là co dãn hoàn toàn đối với phần lớn các loại hàng hoá. Song dù gì thì phân tích chi phí, lợi ích cũng không mấy chuẩn xác. Bài tập1. Vẽ biểu đồ giống như Hình 5-2 trong đó mặt hàng cung cấp bị đánh thuế song tác động của dự án lên cung lớn hơn tác động của thuế lên cung. Chỉ ra vùng nào là giá trị của đầu-ra (output) dự án. 2. Làm lại ví dụ với thuế đánh vào sản phẩm rượu sử dụng giá trị tương đồng trừ độ co dãn giá của cầu là -0.7 và độ co dãn giá của cung là 1.1. Câu trả lời của bạn thay đổi như thế nào. Điều này thể hiện tầm quan trọng của việc dự đoán và đưa thay đổi giá cả do tác động của một dự án vào trong phân tích chi phí lợi ích của dự án đó ra sao?
Ví dụ: Đây thực ra là một ví dụ của việc định giá trên thị trường thứ cấp và không phù hợp ở đây.
[1] Thực tế này là không mấy dễ chịu đối với những doanh nghiệp bị đóng cửa và công nhân bị sa thải do tác động của một dự án chính phủ cạnh tranh.
[2] Mức sẵn sàng chi trả được chỉ rõ bởi đường cầu. Đường cầu cũng chỉ ra giá trị cận biên.
[3] Điều này có thể là khó do xe đạp là mặt hàng không đồng nhất. Những thể loại khác nhau có thể có những đặc điểm rất khác biệt.
[4] Có thể đáng lưu ý rằng nếu một phân tích của dự án đang được tiến hành cho cơ quan trên thực tế sẽ thực thi dự án thì họ chỉ quan tâm đến doanh thu sẽ được tạo ra. Trong trường hợp này, giá trị gắn cho xe đạp sẽ là mức giá thấp hơn ($371.60) ngay cả khi nếu nhìn từ góc độ xã hội sẽ là quá thấp.
[5] Đương nhiên, giả định rằng nhà chức trách thu thuế có vị thế.
[6] Lưu ý rằng lượng sản xuất tư bị cắt giảm cộng thêm lượng tiêu dùng gia tăng bằng lượng rượu mà dự án sản xuất.
[7] Tính bằng cách chia lượng tăng thêm 47,755 cho trung bình của lượng trước dự án-336,000 và sau dự án-383,755.
[8] Tính bằng một quá trình tương tự.
[9] Thực tế các nhà sản xuất rượu nội địa có thể tiếp tục sản xuất song sản xuất để xuất khẩu hơn là để phục vụ thị trường trong nước. Điều này đơn giản là các nguồn lực của họ không được dùng vào sản xuất cho thị trường nội địa mà được sử dụng cho mục đích khác, sản xuất rượu cho thị trường nước ngoài.
[10] Mặc dù nó không mấy quan trọng đối với nghiên cứu, cần phải nhắc lại rằng mức giá không bằng với chi phí xã hội cận biên của sản xuất, lượng cân bằng trên thị trường q0 sẽ là mức sản lượng không hiệu quả. Lúc đó, sẽ xảy ra tình trạng mất mát vô ích.
[11] Đây là đường có độ dốc lớn hơn giảm từ điểm đường cầu giao với trục thẳng đứng. Vì không đủ chỗ trống nên đường này không được đề tên trong hình vẽ này.
[12] Khoảng cách dịch chuyển theo chiều dọc của đường cầu ngang bằng với lượng đầu ra do dự án tạo ra. Trong đồ thị, mức này bằng khoảng Qt - Qp.
[13] Thật hiếu kỳ là có thể có một dự án sản xuất thêm một mặt hàng mà mặt hàng đó đang được trợ giá bởi một hệ thống trợ giá hiện hành song tình huống đó là không tưởng.
[14] Nếu thị trường không cạnh tranh thì mức giá có thể sẽ cao hơn chi phí cận biên. Trường hợp phức tạp này sẽ được bàn đến ở những phần sau. Một tình huống phức tạp hơn được minh hoạ bởi thực tế là xăng được tạo ra từ dầu thô, một nguồn tài nguyên thiên nhiên chịu ảnh hưởng của phí thuê khan hiếm (scarcity rent). Chúng ta sẽ không bàn đến vấn đề này.
Bài này xuất xứ từ Trang Kinh Tế |
|||